Tìm điểm cân bằng cho chính sách tiền tệ

21/09/2026 08:16

Thị trường tài chính toàn cầu những ngày qua chứng kiến đợt điều chỉnh lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn, tác động nhất định đến tỷ giá, dòng vốn và áp lực lạm phát trong nước.Trong bối cảnh dư địa nới lỏng chính sách không còn rộng như trước, bài toán cân bằng giữa tăng trưởng, lạm phát và an toàn hệ thống ngân hàng đòi hỏi việc điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt hơn.


Điều hành chính sách tiền tệ càng cần sự chủ động, linh hoạt, phối hợp đồng bộ với các công cụ chính sách khác và khả năng phản ứng nhanh trước những thay đổi của thị trường. Ảnh: TTXVN

Biến động lãi suất toàn cầu và tác động tới Việt Nam

Sau một thời gian dài các ngân hàng trung ương lớn từng bước nới lỏng chính sách tiền tệ, diễn biến những ngày gần đây cho thấy xu hướng lãi suất toàn cầu đang có những thay đổi đáng chú ý.

Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) ngày 10/9 đã tăng 0,25 điểm phần trăm đối với cả ba mức lãi suất chủ chốt. Theo ECB, xung đột tại Trung Đông tiếp tục tạo áp lực lên lạm phát; dự báo lạm phát của khu vực đồng euro năm 2026 ở mức 3%, cao hơn đáng kể so với mục tiêu 2%.

Tiếp đó, ngày 16/9, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) quyết định tăng 0,25 điểm phần trăm lãi suất quỹ liên bang, đưa phạm vi mục tiêu lên 3,75 - 4%. Fed cho biết lạm phát vẫn ở mức cao và quyết định điều chỉnh lãi suất nhằm hỗ trợ đưa lạm phát trở lại mục tiêu 2%.

Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) ngày 18/9 nâng lãi suất lên 1,25%, mức cao nhất trong nhiều năm, trong bối cảnh cơ quan này quan ngại nguy cơ lạm phát vượt mục tiêu 2%.

Áp lực lạm phát gia tăng trở lại, đặc biệt từ giá năng lượng, cùng những bất định địa chính trị khiến nhiều ngân hàng trung ương thận trọng hơn với khả năng tiếp tục nới lỏng chính sách. Việc điều chỉnh lãi suất được thực hiện trên cơ sở cân nhắc đồng thời nhiều yếu tố như lạm phát, tăng trưởng, thị trường lao động, tỷ giá, giá hàng hóa và các cú sốc từ bên ngoài.

Theo các chuyên gia kinh tế, trong nền kinh tế có độ mở lớn, những thay đổi của chính sách tiền tệ quốc tế có thể tác động đến Việt Nam qua nhiều kênh.

Khi lãi suất tại các nền kinh tế lớn tăng, chênh lệch lãi suất giữa đồng USD và các đồng tiền khác có thể thay đổi, tác động đến dòng vốn và nhu cầu nắm giữ ngoại tệ. Với Việt Nam, biến động tỷ giá không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu mà còn tác động đến chi phí nhập khẩu nguyên liệu, máy móc, thiết bị và từ đó ảnh hưởng đến mặt bằng giá trong nước.

Mặt khác, lãi suất toàn cầu tăng có thể làm thay đổi khẩu vị của nhà đầu tư đối với các tài sản tại thị trường mới nổi. Khi điều kiện tài chính quốc tế thắt chặt, chi phí huy động vốn trên thị trường quốc tế cũng có thể tăng, tạo thêm áp lực đối với doanh nghiệp và hệ thống tài chính.

Việt Nam nhập khẩu một lượng lớn nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất. Khi giá dầu, khí đốt và các loại hàng hóa cơ bản tăng, tác động có thể lan tỏa vào chi phí sản xuất, vận tải và giá hàng hóa, dịch vụ trong nước.

Bài toán cân bằng các mục tiêu

Mục tiêu quan trọng của chính sách tiền tệ Việt Nam là hỗ trợ tăng trưởng, kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng. Tinh thần này đã nhiều lần được Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh.

Tại cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống tổ chức tín dụng trung tuần tháng 8/2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhắc lại yêu cầu: Hệ thống tiền tệ, ngân hàng và các tổ chức tín dụng là huyết mạch của nền kinh tế, giữ vai trò trọng yếu trong ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững.

Thực tế cho thấy, chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia được quyết định trên cơ sở điều kiện kinh tế trong nước. Vì vậy, việc các ngân hàng trung ương lớn thay đổi lãi suất là một biến số quan trọng đối với Việt Nam nhưng không phải yếu tố duy nhất quyết định hướng điều hành.

Bài toán đặt ra không đơn giản là quyết định tăng hay giảm lãi suất mà là tìm điểm cân bằng giữa các mục tiêu, bảo đảm phù hợp với diễn biến lạm phát, trạng thái thanh khoản, tỷ giá và sức khỏe nội tại của nền kinh tế thực.

Các dữ liệu cho thấy, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2026 đã tăng 0,47% so tháng trước và tăng 4,89% so cùng kỳ; CPI bình quân tăng 4,45% so cùng kỳ, gần sát ngưỡng mục tiêu 4,5% và lạm phát cơ bản tăng 4,24%.

Về dòng vốn, dù khối ngoại bán ròng hơn 90.000 tỷ đồng trên thị trường chứng khoán, dòng vốn FDI thực hiện trong 8 tháng vẫn ước đạt 17.25 tỷ USD, tăng khoảng 12% so với cùng kỳ, bổ sung nguồn cung ngoại tệ cho nền kinh tế.

Về tỷ giá, áp lực chưa quá lớn trong ngắn hạn. Chênh lệch lãi suất VND-USD hiện vẫn dương. Cùng với đó, các yếu tố về cán cân ngoại tệ, vàng và dòng vốn đã góp phần hỗ trợ tỷ giá.

Linh hoạt, đồng bộ các công cụ chính sách

Trong bối cảnh đó, ông Nguyễn Quang Huy - Trường Đại học Nguyễn Trãi - đề xuất Ngân hàng Nhà nước sử dụng linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở (OMO), tái cấp vốn và các công cụ điều tiết thị trường khác nhằm đảm bảo thanh khoản hệ thống ở mức hợp lý. Tín dụng cần được ưu tiên cho các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, hạ tầng và các ngành tạo giá trị gia tăng cao; đồng thời kiểm soát chặt chẽ dòng vốn vào các phân khúc tiềm ẩn rủi ro.

TS. Cấn Văn Lực - chuyên gia kinh tế trưởng BIDV và Nhóm tác giả Viện Nghiên cứu Kinh tế BIDV khuyến nghị, chính sách tiền tệ cần được điều hành chủ động, linh hoạt trước các thay đổi của các ngân hàng trung ương lớn, đồng thời phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa để ổn định lãi suất, tỷ giá và hỗ trợ tăng trưởng. Cùng với đó, tăng cường truyền thông và các biện pháp bình ổn giá nhằm hạn chế tâm lý lo ngại lạm phát và hiện tượng tăng giá theo tâm lý thị trường.


Đối với các ngân hàng thương mại, ông Huy khuyến nghị tăng cường quản trị tài sản - nguồn vốn (ALM), kiểm soát chặt chẽ tình trạng chênh lệch kỳ hạn và đặc biệt thận trọng khi cấp tín dụng cho nhóm khách hàng có nguồn thu bằng VND nhưng nghĩa vụ nợ lại bằng ngoại tệ nhằm phòng ngừa rủi ro tỷ giá.

TS. Nguyễn Văn Lộc - Giám đốc Chương trình đào tạo kinh doanh thương mại, Đại học Phenikaa – cho rằng, để duy trì sức hấp dẫn của VND và ổn định kỳ vọng thị trường trước sức ép tỷ giá, mặt bằng lãi suất tiền đồng trên thị trường liên ngân hàng hoặc thị trường huy động có thể cần điều chỉnh trước. Chỉ khi chi phí vốn của hệ thống ngân hàng tăng và neo ở mức cao trong một thời gian dài, lãi suất cho vay mới chịu áp lực điều chỉnh.

ThS. Nguyễn Thái Bình - Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông - nhấn mạnh việc cân bằng giữa tỷ giá, thanh khoản và lãi suất để hóa giải cú sốc bên ngoài. Nếu áp lực chỉ là ngắn hạn, Ngân hàng Nhà nước vẫn có dư địa để duy trì sự độc lập tương đối. Tuy nhiên, nếu kỷ nguyên lãi suất cao của Mỹ kéo dài, chính sách tiền tệ của Việt Nam có thể đứng trước yêu cầu thắt chặt hơn nhằm bảo vệ ổn định vĩ mô.

Có thể thấy, trong bối cảnh tăng trưởng tiếp tục được đặt ở mức cao, lạm phát cần được kiểm soát và môi trường tài chính quốc tế nhiều biến động, công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước càng cần sự chủ động, linh hoạt, phối hợp đồng bộ với các công cụ chính sách khác và khả năng phản ứng nhanh trước những thay đổi của thị trường. Đây sẽ là cơ sở để vừa duy trì dòng vốn cho nền kinh tế, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn hệ thống tài chính./.

Bạn đang đọc bài viết "Tìm điểm cân bằng cho chính sách tiền tệ" tại chuyên mục TÀI CHÍNH. Tin bài cộng tác vui lòng liên hệ hotline: 0903 78 12 09, hoặc gửi về địa chỉ email: [email protected]